DẤU ẤN KHẢO CỔ HỌC CHĂMPA Ở HÀ NỘI

đăng 20:35, 13 thg 8, 2010 bởi Đỗ Thế Hiền

DẤU ẤN KHẢO CỔ HỌC CHĂMPA Ở HÀ NỘI

                                                                                                        ĐINH ĐỨC TIẾN

 

Vào năm 1998 và đặc biệt là 2002 - 2003, các nhà khảo cổ học đã tiến hành khai quật trên quy mô rộng trong khu vực trung tâm của Thăng Long. Dấu vết kinh sư Đại Việt xưa kia như kiến trúc, hiện vật điêu khắc của các thời Lý, Trần, Lê sơ... lần lượt xuất hiện với các lớp văn hoá kế thừa nhau rõ rệt. Rất nhiều di vật đất nung mang hơi hướng phong cách Chămpa được tìm thấy và chắc rằng, nhiều hiện vật khác còn đang nằm ở đâu đó trong lòng đất. Số hiện vật ban đầu đã cho thấy quy mô và các loại hình văn hoá của Hoàng thành Thăng Long xưa nói chung và dấu ấn Chămpa nói riêng.

Bên cạnh những hố khai quật ở Hoàng thành do Viện Khảo cổ học chủ trì, còn có các cuộc khai quật khác của Bảo tàng Lịch sử Việt nam ở Thăng Long - Hà Nội trên một số địa điểm khác nhau như khu Quần Ngựa, Văn Lang, đền chùa Bà Tấm, khu Vạn Phúc... những hiện vật khảo cổ học trong các đợt khai quật này cũng mang nhiều đặc điểm phong cách hơi hướng Chăm giống như khu vực Hoàng thành.

Dấu vết Chăm ở Hoàng thành Thăng Long hay ở các hố khai quật khác ở Hà Nội chủ yếu đọng lại trên vật liệu kiến trúc. Do chưa có tài liệu thành văn để minh chứng cho việc có những kíp thợ Chăm tham gia thiết kế, sản xuất rồi trực tiếp xây dựng các công trình trong Hoàng thành hay các công trinh khác ở Thăng Long nên mọi sự đều chỉ là suy đoán, nghi vấn. Song qua các chi tiết người đốc công vô danh chỉ đạo xây dựng tháp Báo Thiên mà Tạ Chí Đại Trường đã nhắc tới (1), cùng số thợ thuyền Chăm bị đem về Thăng Long sau những cuộc thảo phạt (những người thợ có đôi tay, khối óc và kỹ thuật xây dựng những ngôi đền tháp tuyệt vời của dân tộc họ) thì có lẽ, họ đã được sử dụng để xây dựng những công trình kiến trúc cung điện, lăng tẩm cho cung đình Đại Việt nói chung và ở Thăng Long nói riêng trong nhiều thế kỷ... (2).

Hình ảnh về chim uyên ương trên những viên ngói úp nóc (thời Lý) được thể hiện hao hao với ngỗng thần Hamsa (vật cưỡi của thần Brahma) trong điêu khắc Chăm. Uyên ương ở Hoàng thành được làm bằng vật liệu đất nung, có màu đỏ, trên thân có nhiều chi tiết chạm chỉ chìm, hay chấm tạo thành những diện khối của cánh, mắt, mào, vằn ức, chấm lông thân... các đường nét không tinh tế, có phần hơi ẩu nhưng nó cũng vừa đủ để thể hiện rõ ràng làn ranh và hình khối trên cơ thể con vật. Về hình dáng, uyên ương được tạo trong tư thế đứng, có mỏ vịt đang loe mở, cổ ngấn và mập, đầu ngẩng hướng lên phía trên, từ trong khoé mép có những mảng hoa văn hình sóng nước ken nhau, có đuôi sóng cuộn lại vểnh cao, tạo cảm giác nhẹ nhõm, bay lên cho chiếc đầu vịt vốn to u ở phần trán và khá nặng nề. Hai chiếc cánh được xoè rộng như trong tư thế múa, phần đầu cánh được xoắn lại tạo nên hình cánh cung giống với những đôi cánh của thần điểu Garuda. Phần đuôi uyên ương được làm khá to với những đường lượn và vút nhỏ lại ở đầu mút. Hình thức những con uyên ương tìm thấy ở khu Quần Ngựa, Hà Nội, nay đang được trưng bày ở Bảo tàng Lịch sử Việt Nam cũng có hình thức giống với uyên ương ở Hoàng thành Thăng Long, mặc dù có vài chi tiết trang trí trên thân khác nhau. Uyên ương thường xuất hiện thành cặp đôi (trống - mái), nó bắt nguồn từ hình ảnh là con vịt trong dân gian hơn là ngỗng cổ dài Hamsa có nguồn gốc Chăm. Tuy nhiên, khi so sánh với bức phù điêu hình con ngỗng Hamsa trên bệ tượng ở Mỹ Sơn, Quảng Nam thì nó mang hình hài của con vịt hơn là con ngỗng trong thực tế. Với cái đầu to, cổ ngắn, thân bầu bĩnh, đặc biệt là chiếc mỏ rất giống với uyên ương khai quật được ở Thăng Long.

Một hình ảnh khác với đôi uyên ương và ngỗng Hamsa là chim phượng, xuất hiện trên các phù điêu trang trí ngói úp hoặc phù điêu hình lá đề (thời Lý). Chúng ta rất khó có thể khẳng định đây là sản phẩm mang hơi hướng và phong cách Chăm, vì tứ linh (trong đó có phượng) vốn là sản phẩm ảnh hưởng từ Trung Hoa và gắn liền với biểu tượng của quyền lực cung đình. Nhưng trên thực tế, khi so sánh tư thế của phượng thời Lý với các Garuda (Thần Điểu) bằng sa thạch hoặc đất nung của người Chăm, thì không có khác nhau là mấy về mặt bố cục. Sự khác nhau chính ở chỗ Garuda là một linh vật có đầu chim, thân người, còn phượng lại thuần tuý là linh vật kết hợp của nhiều giống loài khác nhau. đặc điểm giống nhau dễ nhận thấy nhất giữa Garuda (Mỹ Sơn) và phượng thời Lý (Hoàng thành Thăng Long) chính là đôi cánh được tạo trong tư thế dang rộng, cữ động của cánh xoè hết cỡ giống với hình thức quạt lượn hình vòng cung. Hai đầu cánh thường được xoắn lại tạo cảm giác mở rộng của đôi cánh. Tuy nhiên nhà nghiên cứu Trần Hậu Yên Thế lại cho rằng "các nhà khảo cổ học tìm thấy trong Hoàng thành những đầu tượng công bằng đất nung rất giống với các con thuỷ quái makara, các con phượng hao hao những con ngỗng Hamsa..." (3).

Những trang trí trên viên ngói úp (thời Lý) ở Hoàng thành dưới dạng phù điêu chạm bong kênh, hoặc chạm thủng hình ảnh rồng, phượng điển hình cho phong cách nghệ thuật thời Lý. Tuy nhiên, dấu ấn Chăm lại không nằm ở những chi tiết hoa văn cụ thể như vậy, mà xuất hiện ở hình dáng, bố cục của toàn bộ bức phù điêu trang trí của viên ngói. Chúng chính là những biến thể, cách điệu của chiếc lá nhĩ gắn trên các cạnh góc đỉnh, mái tháp Chăm. Chất liệu của những chiếc lá nhĩ nguyên gốc này thường được làm bằng sa thạch, với chiếc cánh có đầu nhọn chạy dọc sống thân. Trong khi đó chất liệu của những viên ngói có trang trí phù điêu rồng, phượng được làm bằng đất nung và không xẻ thành cánh hoa chạy theo thân của mảng chạm. Điều đáng lưu ý là chiếc lá nhĩ ở tháp Chăm và phù điêu trên ngói ống đều là những vật liệu kiến trúc trang trí ở những cạnh góc của phần mái kiến trúc. Mặc dù chất liệu của chúng khác nhau nhưng đều có công năng là tạo thẩm mỹ cho công trình kiến trúc đó.

Viên gạch tháp có thần điểu Garuda là bức tượng hiếm hoi bắt gặp được trong những hố khai quật ở khu vực Văn Lang, Ba Đình (gần với khu vực Thập Tam trại của Thăng Long - Hà Nội), hiện đang được trưng bày ở Bảo tàng Lịch sử Việt nam tại Hà Nội. Garuda gần như còn nguyên vẹn, với tư thế phổ biến và bố cục tạo hình mang đậm phong cách Chăm. Có lẽ đây là một trong những vật liệu xây dựng bằng đất nung nằm ở các vị trí giá đỡ có tính chất chịu lực quan trọng cho một công trình kiến trúc thường ở trên các toà tháp hoặc tàu mái. Garuda được tạo tác trong tư thế điển hình của các thần điểu trong văn hoá Chăm, với chiếc đầu chim khá dữ tợn, thân người nổi khối căng với bộ ngực nở và chiếc bụng tròn. Chân tay của Garuda, dang rộng, cùng với đôi cánh khoẻ mọc ra từ sau lưng. Mặc dù Garuda ở Thăng Long bị sứt mỏ, với chiếc mũ đội có vành miện trên trán, tai to (giống tai dơi), mắt lồi, phần bụng để trần, ở dưới mặc một chiếc váy ngắn rất ngộ nghĩnh. Hai chân thần điểu dang rộng, hai tay chống lên đầu gối, tư thế này khác, hoặc biến tướng đôi chút so với thần điểu của Chămpa, tuy nhiên, đây vẫn là tư thế và hình dáng của một Garuda quen thuộc trong nghệ thuật điêu khắc Chăm.

Hai nửa viên gạch duy nhất có khắc những ký tự chữ Phạn (Sanskrit) được phát hiện thấy ở khu Hoàng thành Thăng Long. Nó xen lẫn với rất nhiều các loại gạch xây khác của Đại Việt như: Đại Thông Độ, Long Thụy Thái Bình, Hoàng Môn Thự, Đại Việt Quốc Quân Thành Chuyên... Hai nửa viên gạch có chữ Chăm nằm lẫn trong đám gạch của Đại Việt cho ta có nhiều suy đoán khác nhau về nguồn gốc và sự xuất hiện đặc biệt của nó trong số những viên gạch thuần Việt khác. Hai nửa viên gạch này nên được xem là những chứng cớ ban đầu về sự góp mặt, tham gia xây dựng hay sản xuất vật liệu cho những công trình kiến trúc cung đình đương thời của người Chăm. Rất có thể một thợ xây, làm gạch người Chăm nào đó, khi phải làm gạch theo mẫu do triều đình Đại Việt quy định, đã không quên để lại dấu ấn riêng của quê hương - văn hoá Chăm lên những sản phẩm mà mình phải đổ công sức và tâm huyết làm ra... Có lẽ còn có rất nhiều các suy đoán khác nhau về nguồn gốc, vai trò, chức năng của nó so với những viên gạch có chữ Hán cùng loại. Về hình thức, hai nửa viên gạch có chữ Chăm được tìm thấy không còn nguyên vẹn, nó đã bị vỡ đôi với nhiều góc cạnh sứt mẻ. Tuy nhiên, dòng chữ Chăm khắc chìm lại rất rõ ràng trên thân gạch, nên có thể xác định từng ký tự cụ thể. Điều này cho phép các nhà nghiên cứu có thể xác định được nội dung ghi trên gạch. Rất tiếc, do hạn chế về ngôn ngữ Chăm cổ nên chúng tôi tạm bỏ qua, để cậy nhờ vào những chuyên gia ngôn ngữ học Chăm dịch trong thời gian tới.

Bên cạnh những dấu ấn kiến trúc mang hơi hướng phong cách Chămpa, trong các cuộc khai quật kể trên còn xuất hiện không ít dạng hiện vật khảo cổ khác. Chúng cũng có ít nhiều đặc điểm, phong cách của văn hoá Chăm trên đất Thăng Long xưa và Hà Nội ngày nay. Có thể kể đến:

Mảnh tháp sứ trắng thời Lý trang trí hình tiên nữ (Apsara) là hiện vật rõ ràng và dễ nhận diện nhất về dấu ấn văn hoá Chăm ở Hoàng thành Thăng Long. Mảnh tháp bằng sứ còn lại này với một vài chi tiết hoa văn ít ỏi nhưng rất đặc biệt, đủ giúp chúng ta nhìn ra hình hài các Apsara trang trí trên ba ô hộc hình vuông. Mô típ trang trí này rất giống với các đế tháp Chăm ở miền Trung Việt Nam. Vũ nữ đang trong tư thế của các vũ điệu giàu nhạc tính, chân chống chân quỳ, hai tay giơ lên cao như đang đỡ lấy toàn bộ đài sen phía trên, mặt ngoảnh về cùng một hướng. Toàn bộ cơ thể của Apsara được kết hợp với các dải váy áo khá sinh động. Hình hài và tư thế múa của các Apsara trên mảnh tháp sứ trắng ở Hoàng thành rất giống với các dải phù điêu trang trí bằng sa thạch ở chân những ngôi tháp Chăm thuộc Quy Nhơn, Bình định. Những vũ công trên ngôi tháp Chăm cũng đang trong tư thế chuyển động giàu nhạc tính, toàn thân nhún xuống, đầu gối khuỳnh sang hai bên, tay trái giơ cao như đỡ lấy bệ tháp, tay phải gập về phía trước ngực. Điều dễ nhận thấy là các Apsara cả ở mảnh tháp sứ thời Lý và đế tháp ở Bình Định được nhắc lại trên một dải phù điêu liên tục. Có thể, các chi tiết không giống nhau trong các đường nét tạo tác và vũ điệu giàu nhạc tính, nhưng vẫn nhận thấy chúng có những điểm chung, na ná, hao hao, giông giống khi đặt chúng bên cạnh nhau. Chúng ta còn bắt gặp những phù điêu Apsara bằng sa thạch trên các tháp ở Trà Kiệu, Quảng Nam (TK X) có tư thế và động tác giống với các vũ nữ trên các ô hộc của mảnh tháp trắng thời Lý ở Hoàng thành Thăng Long.

Mảnh đá trang trí thành đồ án hoa văn cúc dây (ở Hoàng thành) rất giống với bức phù điêu và tượng sấu đá nằm trước cửa đền Bà Tấm (Phú Thụy, Gia Lâm, Hà Nội), hay chiếc lan can đá ở Bách Thảo (Hà Nội). Đồ án này được kết cấu bằng những đường gờ nổi tạo nên các hình tròn dẹt nằm ngang liên tục, đăng đối nhau. Hình ảnh trang trí với những đồ án có cùng phong cách thể hiện kiểu này xuất hiện rất nhiều trên các dải phù điêu hình chữ nhật chạy trên các viền của bệ tượng hoặc chóp tháp Chăm ở miền Trung. Thảng hoặc, hình hài này cũng xuất hiện trên các tường gạch nung của tháp Chăm ở Mỹ Sơn hay ở Bình Định. Mặc dù vậy, cũng có khá nhiều chi tiết trang trí ở bên trong các đồ án ấy khác nhau: đồ án ở Hoàng thành Thăng Long là các bông hoa cúc cách điệu, mãn khai; còn ở Chămpa là những hình vân sóng nước, hoặc dây hoa cũng rất sinh động. Dạng đồ án có bố cục hình tròn dẹt liên tục, đăng đối nhau này còn xuất hiện trên các tường tháp, tuy nhiên hoa văn của chúng lại được thể hiện dưới dạng các lá cây dương xỉ.

Mảnh bệ tượng người nâng bệ thời Lý (TK XI-XIII) ở khu Quần Ngựa (hiện được trưng bày trong Bảo tàng Lịch sử Việt nam) còn sót lại phần để có trang trí thành nhiều cấp khác nhau. Đặc biệt nhất là những đồ án chạm nổi hình người đang nâng bệ trong các ô vuông độc lập. Mặc dù các hình này không được chạm khắc tỉ mỉ, rõ nét, nhưng các đường khối lớn có thể cho ta nhận thấy nhân vật đang trong tư thế nhún xuống, hai chân đan nhau, tay giơ cao lên ngang đầu như đỡ lấy chiếc bệ ở phía trên, đầu nghiêng sang bên theo điệu nhạc, thân cởi trần, đóng khố. Đường nét điêu khắc của những đồ án phù điêu  này không tỉ mỉ, có phần thô phác, nổi những hình khối lớn khoẻ mạnh, ngộ nghĩnh. Những hình hài nghệ thuật có tính chất đơn giản nhưng khoẻ khoắn này chúng ta thường bắt gặp trên các phù điêu trang trí hình người đỡ bệ ở các ngôi đền tháp phổ biến trong văn hoá tạo hình Chămpa. Đặc biệt là hình ảnh những tượng phù điêu người đỡ bệ ở Mỹ Sơn, Quảng Nam hiện cũng được trưng bày trong Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, với dòng chú thích là hình ảnh các vũ công; nhưng theo tôi đây là hình ảnh của người nâng đỡ bệ như đã mô tả ở trên.

Tượng nữ thần chim (Kinara) bằng đất nung thời Lý, là hình hài của một Kinara - vị thần điểu có thân chim, đầu người, thường xuất hiện trong nghệ thuật điêu khắc Chăm. Tuy nhiên, tượng nữ thần chim, phát hiện ở Yên Lãng (Ngọc Hà, Hà Nội), được làm bằng đất nung, có niên đại vào khoảng TK XI-XIII, bị vỡ nhiều nên chúng tôi không thể xác định có phải tác phẩm này được tạo lên vật liệu kiến trúc để trang trí không, nên tạm xếp vào phần này. Với khuôn mặt bẹt, đường nét thể hiện thô phác: mắt xếch, mũi nhỏ, miệng tròn, gò má cao hơi bầu; thân hình của chim có đôi cánh đang trong tư thế áp thân, phần đuôi xoè rộng như chiếc quạt, vểnh cao hơn phần đầu, hình dáng tổng thể trong tư thế múa. Với những đường nét và cấu trúc tiếu tượng học như vậy, đây là một Kinara thực thụ đã được Việt hoá khuôn mặt.

Những chiếc đầu sư tử thời Trần có khuôn mặt của Kala (Thần Thời gian) được các nhà khảo cổ học tìm thấy ở khu vực Hoàng thành Thăng Long và khu Quần Ngựa (hiện trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam). Đầu những sư tử này thường dưới dạng tượng tròn, được tạo khối khoẻ khoắn, với tai thú, mắt lồi tròn, mũi to, cánh mũi lớn nhưng ngắn, miệng há rộng nhe nanh và hàm răng trông rất dữ tợn. Đây là những hình ảnh chúng ta có thể bắt gặp trên các khuôn mặt Kala hay Rahu (Thần Nhật - Nguyệt thực hay còn gọi hổ phù) được tạo tác trên những phiến sa thạch ở các ngôi tháp Chăm. Tuy nhiên, chúng ta cũng chỉ bắt gặp những đường nét hao hao, giông giống với những bố cục tương đồng giữa hai dạng hiện vật mà thôi. Có thể đưa ra những suy đoán rằng, rất có thể, các nghệ nhân thợ thuyền người Chăm đã mô phỏng hình hài, đường nét, bố cục của Kala khi tạo tác đầu sư tử.

Hiện nay, trong khu vực Hoàng thành Thăng Long, các nhà khảo cổ học phát hiện một hệ thống giếng nước có nhiều niên đại và kỹ thuật xây dựng khác nhau. Bên cạnh đó, người ta còn phát hiện được nhiều chiếc khác có phong cách hay mang dấu ấn của kỹ thuật Chăm rải rác quanh địa phận Hà Nội. Ví dụ, chiếc giếng nước ở số 42 Nhà Chung, Hà Nội, có miệng bằng đá. Đây chính là khu vực của làng Báo Thiên - nơi đây dựng chùa - tháp Báo Thiên xưa và vì vậy, sự xuất hiện giếng nước có phong cách kỹ thuật Chăm là điều dễ hiểu hoặc có thể chấp nhận được về mặt khoa học. Tuy nhiên, sau này . Người Pháp cho xây dựng các công trình tôn giáo, trải qua thời gian, chiếc giếng đã bị vùi lấp, di vật còn lại là phần miệng giếng bằng đá hiện nay được đặt tại sân sau của nhà thờ lớn Hà Nội. Ngoài ra, ở làng Cổ Nhuế (Từ Liêm, Hà Nội); làng Tấm (gần Giáp Bát, Hoàng Mai, Hà Nội)... cũng còn những chiếc giếng mang phong cách và kỹ thuật Chăm, nhưng rất tiếc chúng đã bị lấp và không còn tìm thấy những dấu ấn vật chất nữa. Tuy nhiên, theo nhận định, nghiên cứu của các nhà chuyên môn, chúng là những chiếc giếng có phong cách , kỹ thuật Chăm. Và rất có thể, chúng do trực tiếp người Chăm xây dựng hoặc người Việt đã tiếp nhận tính ưu trội của kỹ thuật làm giếng từ người Chăm trong lịch sử.

Trong hệ thống giếng nước mà các nhà khảo cổ học tìm thấy trong khi khai quật ở khu Hoàng thành Thăng Long, có một chiếc giếng mang niên đại vào thời Trần, thể hiện rõ phong cách và kỹ thuật Chăm. Cụ thể là kỹ thuật xếp gạch tựa như các giếng Chăm ở miền Trung. Cần phải nói là người Việt không xếp gạch khi làm giếng, thay vào đó là xây thành giếng bằng gạch. Việc xếp gạch mà không dùng chất liệu kết dính là đặc điểm ưu trội của các giếng Chăm. Bởi lẽ, những kẽ gạch không có kết dính là phần lọc để lấy nước vào giếng. Chính vì thế, giới khảo cổ học, khi nghiên cứu giếng Chăm, cho rằng gần như chúng không bao giờ cạn nước. Đây là một đặc trưng cơ bản của một trong những loại giếng nước có mang phong cách, kỹ thuật Chăm, rất khác với những chiếc giếng có niên đại thời Lý, Lê... ở quanh đó.

Những dấu ấn khảo cổ học Chăm ở Hà Nội, vẫn còn nằm đâu đó trong lòng đất, sẽ cung cấp thêm nhiều thông tin và cách tiếp cận, cách nhìn khác một khi được phát hiện sau này. Tuy những dấu ấn ít ỏi kể trên chưa đủ trở thành một hệ thống để có thể dưa ra những kết luận khoa học cụ thể nhưng có thể tạm nhận định rằng, thực sự có những dấu vết văn hoá Chăm thông qua các hiện vật khảo cổ học đã tồn tại ở Thăng Long xưa và Hà Nội nay. Những dấu ấn Chămpa đó không còn nguyên gốc, đã bị biến đổi hay bị Việt hoá cho phù hợp với hoàn cảnh mới trong suốt chiều dài lịch sử trung đại của Đại Việt nói chung và Thăng Long - Hà Nội nói riêng.

 Chú thích:

(1) Tạ Chí Đại Trường, Thần, người và đất Việt. Nxb Văn hoá Thông tin. Hà Nội. 2006.

(2) Đinh Đức Tiến. Những dấu ấn văn hoá Chăm ở Hà Nội. Luận văn Thạc sĩ sử học. Đại học KHXHVNV. Hà Nội 2008.

(3) Trần Hậu Yên Thế. Dấu tích mỹ thuật Chămpa trên cố đô Hoa Lư. Văn hoá Nghệ thuật số 2-2008. tr 61-64. 

  • Nguồn: Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật- số 301- tháng 7 - 2009, (mục Văn hoá cổ truyền, tr 21 -25). PTTB sưu tầm

Văn hóa - nghệ thuật

Dành cho du khách

Doanh nghiệp hàng đầu

  • Công ty mộc nệm nội thất Minh Hùng TP.HCM (Sài gòn) - Chuyên đóng ghế salon, sofa, nội thất phòng khách, nhà hàng, khách sạn, cafe, ô tô Trang chủ | Giới thiệu | Sản phẩm | Dịch vụ | Khách hàng | Bản đồ | Liên hệ Kính gửi: Quý khách hàngCông ty mộc nệm nội thất  Minh Hùng  chuyên sản xuất ...
    Được đăng 02:12, 22 thg 8, 2012 bởi Đỗ Thế Hiền
  • DNTN Mộc Nệm Thành Tâm TP.HCM - Chuyên Ghế Sofa Phòng khách, Karaoke, Cafe Trang chủ | Giới thiệu | Sản phẩm | Dịch vụ | Khách hàng | Bản đồ | Liên hệ DNTN MỘC NỆM THÀNH TÂM Địa chỉ: 177–179 Đường số 8, Bình Hưng Hòa A ...
    Được đăng 05:38, 16 thg 7, 2012 bởi Đỗ Thế Hiền
  • Trường Đại học Đông Á - Dong A University Trường Đại học Đông Á Là một trong ba trường đại học tư thục tại thành phố Đà Nẵng, đại học Đông Á với chặng đường phát triển đi lên ...
    Được đăng 23:40, 11 thg 11, 2011 bởi Đỗ Thế Hiền
  • Công ty cổ phần Hoàng Anh Gia Lai Thông tin về công ty cổ phần Hoàng Anh Gia LaiTầm nhìn và sứ mệnh của HAGLLịch sử hình thành và phát triển của tập ...
    Được đăng 14:42, 1 thg 3, 2012 bởi Đỗ Thế Hiền
  • Trung tâm Tin học Việt Tin -VIETIN | Giới thiệu | Chương trình đào tạo | Chiêu sinh | Tin tức hoạt động Giới thiệu Trung tâm tin học Việt Tin I. THÔNG TIN CHUNG     Trụ sở Trung tâm Tin học ...
    Được đăng 21:35, 7 thg 6, 2012 bởi Đỗ Thế Hiền
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 6. Xem nội dung khác »


Comments